Dự án đầu tư và dự án đầu tư xây dựng công trình

Đầu tư dự án

dự án đầu tư“>dự án đầu tư

Có khá nhiều các định nghĩa, khái niệm về dự án đầu tư trong các tài liệu nghiên cứu hoặc các văn bản hướng dãn.

Dự án đầu tư được hiểu là “một tập hợp các đê xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng vê mặt số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)”.

Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt dộng dầu tư trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. (Theo khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư).

Các khái niệm trên đây có một sô’ điểm chi tiết, câu chữ có thể khác nhau, nhưng tựu chung có thế định nghĩa ngắn gọn như sau:

Dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng dầu tư (hoạt động bỏ vốn) được hình thành và hoạt dộng theo một kế họach cụ thể, với các điều kiện ràng buộc để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian xác định.

Trong đó các ràng buộc gồm: Pháp luật; Tiêu chuẩn, Quy chuẩn; Tiền (nguồn vốn – tài chính); Tiến độ; Không gian (đất đai, tổng mặt bằng xây dựng).

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ:

Vê mặt hình thức: Dự án đấu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.

Về mật quản lý: Dự án đầu tư là một cổng cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài.

về mặt kế hoạclì hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua, việc sử dụng các nguồn lực xác định.

Một dự án đầu tư thường bao gồm bốn thành phần chính:

–   Mục tiêu của dự án: Thể hiện ở hai mức là mục tiêu phát triển và mục tiêu trước mắt. Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án.

–   Cúc kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điểu kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án.

–   Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.

–   Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.

Trong bốn thành phần trên thì các kết quả đạt được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Vì vậy trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm.

Dự án đầu tư xây dựng công trình:

Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.

Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở.

Đặc điểm của một dự án đầu tư xây dựng công trình là:

–   Tính “duy nhất” của sản phẩm, mỗi dự án đầu tư xây dựng đều cho một sản phẩm cụ thể và duy nhất;

–   Mỗi dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rất rõ ràng, tức là thời gian quản lý dự án có thê xác định dược và chỉ xảy ra một lần.