khai niem dac trung va vong doi cua du an 53d061b96b141 - Khái niệm, đặc trưng và vòng đời của dự án

Khái niệm, đặc trưng và vòng đời của dự án

Đầu tư dự án

Khái niệm về dự án

Theo Đại bách khoa toàn thư, từ “Dự án (Project) được hiểu là điều có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”.

Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tướng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý nãng động, chuyển động hành động. Chính vì lẽ đó mà có khá nhiều khái niệm về thuật ngữ này, cụ thế như:

Theo Tổ chức điều hành dự án – VỈM: Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quá của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn.

Theo trường Đại học Quàn lý Henley: Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể.

Theo nghĩa hiểu thông thường: Dự án là “điều mà người ta có dự định làm”.

Theo Cẩm nang các kiến thức cơ bản về QLDA của Viện nghiên cứu QLDA quốc tế thì; “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ độc nhất”.

Theo khoản 7 Điều 4 Luật Đâu thầu: Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.

Về mặt lý thuyết, dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính sau: Cần tới nguồn lực (con người, máy móc, vật tư và tiền vốn); có mục tiêu cụ thể; phải được hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước; có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng; có khối lượng công việc cần thực hiện cụ thể; có ngân sách hạn chế và sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau.

Tóm lại: Dự án là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có mục tiêu rõ ràng (trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng), yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vuợt qua dự toán đó.

Như vậy, Dự án là đối tượng của quản lý và là tập hợp của những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một logic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định. Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư.

đặc trưng của dự án

Một dự án được đặc trưng bởi những nhân tố sau:

–      Diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định;

–      Nhiệm vụ đặc biệt chỉ thực hiện một lần;

–      Công cụ quản lý đặc biệt;

–      Các nguồn lực bị giới hạn;

–      Nhân sự dự án là tạm thời, đến từ nhiều nguồn;

–      Tập hợp các hoạt động tương đối độc lập (Subprojects);

–      Có liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều đối tượng khác nhau.

Một dự án được coi là thành công nếu đạt được những điều cụ thể sau:

+ Hoàn thành đúng thời hạn quy định;

+ Chi phí nằm trong dự toán đã được xác định;

+ Quá trình thực hiện công việc hợp lý hoặc đạt được các yêu cầu kỹ thuật;

+ Chủ đầu tư (hoặc người sử dụng) thỏa mãn (chấp nhận);

+ Có rất ít thay đổi hoặc có sự nhất trí cho các thay đổi về phạm vi công việc;

+ Không gây ra sự kiện bất lợi lớn cho đơn vị chú quản của nhóm thực hiện dự án.

vòng đời của dự án

Tùy cách quan niệm mà gọi là chu kỳ hay vòng đời của dự án.

Vòng đời của dự án (Construction Project Life Cycle,[38]):

Vì dự án có điểm khởi đầu, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và kết thúc nên dự án có một vòng đời. Vòng đời của dự án gồm nhiều giai đoạn phát triển từ khi có ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả của dự án. Trong vòng đời này, công tác quản lý chú trọng vào phương thức kiểm soát nhằm giảm thiểu những nguồn lực và tiền của sử dụng vào những mục tiêu không chắc chắn.

Khái niệm vòng đời xuất phát từ ba quan điểm sau:

–      Dự án có thời gian khởi đầu và kết thúc;

–      Dự án giải quyết một vấn đề hoặc nhằm đạt tới một nhu cầu về tổ chức;

–      Quá trình quản lý được thực hiện song song với vòng đời.

Khái niệm, đặc trưng và vòng đời của dự án 1

Vòng đời của dự án (theo Ngân hàng Thế giới) gồm các công việc theo thứ tự sau:

–      Xác định các nội dung của dự án;

–      Chuẩn bị dữ liệu;

–      Đánh giá dữ liệu và lựa chọn giải pháp cho dự án;

–      Đàm phán và huy động thành lập tổ chức dự án;

–      Triển khai (bao gồm thiết kế chi tiết và xây dựng dự án);

–      Thực hiện dự án;

–      Đánh giá tổng kết sau dự án.

Chu kỳ của dự án (Project Life Cycle.[39]):

Nếu không muốn gọi “Vòng đời” của dự án, người ta còn gọi với tên khác là “Chu kỳ” (hay Chu trình) của dự án. Đó là quãng thời gian để hoàn thành quá trình đầu tư (kể từ bước xác định dự án đầu tư, đến các bước thực hiện đầu tư và bước khai thác, vận hành dự án để đạt được mục tiêu đã định).

Chu kỳ của dự án chia làm ba giai đoạn:

–      Chuẩn bị đầu tư (Preparation) hay còn gọi là giai doạn khới động gồm nghiên cứu cơ hội, nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khá thi;

–       Thực hiện đầu tư (Implementation) gồm thiết kế và xây dựng;

–      Kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng (Terminate and handover) gồm vận hành, khai thác, đánh giá sau dự án và kết thúc dự án.

Khái niệm, đặc trưng và vòng đời của dự án 1

Có thể chia nhỏ các giai đoạn của dự án ra như sau:

+ Xác định dự án (Indentification);

+ Lập dự án (Design);

+ Trình, thẩm định, phê duyệt dự án (Get approval);

+ Thiết lập cơ chế hoạt động (Execution);

+ Điều hành, giám sát dự án (Operation);

+ Kết thúc, đưa dự án vào khai thác sử dụng (Terminate and handover).

Phân loại dự án

Phân loại cơ bản các dự án trong điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

–      Dự án xã hội: Cải tổ hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ an ninh trật tự cho tất cả các tầng lớp dân chúng, khắc phục những hậu quả thiên tai.

–      Dự án kinh tế: cổ phần hóa doanh nghiệp, tổ chức hệ thống đấu thầu, bán đấu giá tài sản, xây dựng hệ thống thuế mới.

–      Dự án tổ chức: Cải tổ bộ máy quản lý; thực hiện cơ cấu sản xuất kinh doanh mới; tổ chức các hội nghị quốc tế, đổi mới hay thành lập các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp khác.

–     Các dự án nghiên cứu và phát triển: Chế tạo các sản phấm mới, nghiên cứu chế tạo các kết cấu xây dựng mới, xây dựng các chương trình phần mềm tự động hóa.

–     Dự án đầu tư xây dựng: Các công trình dân dụng, công nghiệp, công cộng, giao thõng vận tải, thủy lợi, thủy điện và hạ tầng kỹ thuật.

(Nội dung tài liệu này giới hạn nghiên cứu những vấn đề thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình).