Khái niệm về ISO 9000

Đầu tư dự án

Khái niệm về iso 9000:

ISO (International Organization for Standardization) là ký hiệu chung của tất cả các tiêu chuẩn do “Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa” soạn thảo và công bố. Chức năng của tổ chức này là xây dựng và phổ biến các tiêu chuẩn đạt chuẩn mực quốc tế, nhằm thúc đẩy sự phát triển thương mại, sự hợp tác khoa học, công nghệ, kinh tế giữa các nước và vì mục đích phát triển xã hội trên toàn cầu. Các tiêu chuẩn iso được biên soạn theo nguyên tắc chung là: Nhất trí, tự nguyện, bình đẳng và định hướng theo thị trường. Các tiêu chuẩn ISO phần lớn được biên soạn dựa trên tiêu chuẩn của các nước Châu Âu, trong đó chủ yếu là tiêu chuẩn Anh, nên thường ký hiệu là BS (British Standard), nên nó ảnh hưởng nhiều tư tưởng và phong cách Châu Âu.

ISO 9000 là tiêu chuẩn thứ 9000 của tổ chức ISO có tên gọi là “Tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lương”, nãm 1987 được công bố lần đầu với tên là ISO 9000 : 1987, sau đó rà soát và chỉnh sửa lần 1 thành ISO 9000 : 1994, lần 2 thành ISO 9000 : 1996 và hiện nay là ISO 9000 : 2000.

ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn chung cho mục tiêu quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng, được áp dụng chung cho tất cả các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong đó:

–     ISO 9001 là bộ tiêu chuẩn cho các quá trình thiết kế, cung ứng, lắp đặt, dịch vụ;

–     ISO 9002 là bộ tiêu chuẩn cho các quá trình sản xuất, cung ứng, lắp đặt, dịch vụ;

–     ISO 9003 là bộ tiêu chuẩn cho các quá trình kiểm tra, thử nghiệm;

–     ISO 9004 là bộ tiêu chuẩn Hướng dẫn vận hành hệ thống chất lượng nhằm quản lý nội bộ, không dùng đối ngoại.

Một số nước chấp nhận tên và ký hiệu của ISO, một số nước viết và ký hiệu theo cách của họ. Ví dụ: Nước Anh (ký hiệu là BS 5750 : 87 : PtO), Mỹ (ANSI/ASQC Q90), Nga (Gost 40.9000-88), Đức (DIN ISO 9000), Trung Quốc (GB/T 10300-88)…

Việt Nam chấp nhận ISO 9000 làm tiêu chuẩn Việt Nam và dịch ra tiếng Việt. Cụ thể:

–      Dịch ISO 9000 : 1987 thành TCVN 5200 : 1990;

–      Dịch ISO 9000 : 1994 thành TCVN 5200 : 1994, thay TCVN 5200 : 1990;

–      Dịch ISO 9000 : 1996 thành TCVN 5200 : 1996, thay TCVN 5200 : 1994;

–      Dịch ISO 9000 : 2000 thành TCVN ISO 9000 : 2000 để áp dụng hiện nay.

Hai lý do khiến một doanh nghiệp nói chung hay doanh nghiệp xây dựng nói riêng cần phải áp dụng ISO 9000 là:

+ Khách hàng yêu cầu nhà cung cấp phải có hệ thống đảm bảo chất lượng hoặc có chứng chỉ ISO 9000. Đối với Ngành Xây dựng, vấn đề này thể hiện ở quan hệ giao nhận thầu (A-B).

+ Bản thân các doanh nghiệp thấy cần phải nâng cao trình độ quản lý chất lượng và giải pháp tốt nhất là áp dụng ISO 9000.

Sự ra đời và áp dụng rộng rãi ISO 9000 là một trong những thành tựu vĩ đại của khoa học quản lý cuối thế kỷ XX. Với mong muốn làm cho chất luợng cuộc sống này một tốt hơn, ISO 9000 đã có những tu tuởng mới đuợc xây dụng trên 8 nguyên tắc sau đây:

(1) Định huống bởi khách hàng (Customer focus): Đây là một nguyên tắc chiến luợc, có tầm “triết học” của ISO 9000. Nó vạch ra đuờng lối đối ngoại huớng vào khách hàng. Tức là cần hiểu rõ các nhu cầu hiện tại và tuơng lai của khách hàng để đáp ứng các yêu cầu đó và cố gắng vuợt cao hơn sự mong đợi của họ. Điều đó phù hợp vói quy luật kinh tế thị truờng.

(2) Sự lãnh đạo (Leader ship): Sụ lãnh đạo có yếu tố quyết định tất cả. Vì vậy, người lãnh đạo phải có đủ năng lục chuyên môn, nãng lục quản lý và phải hiểu về ISO 9000. Lãnh đạo thiết lập sụ thống nhất giữa mục đích và phuơng huớng của cơ quan. Cần tạo ra và duy trì môi truờng làm việc để mọi nguời đều có thể tham gia để đạt đuợc các mục tiêu đã đề ra.

(3) Sự tham gia của mọi thành viên (Involvement of people): Đây chính là chính sách dàn chủ và phát huy nội lực của mọi thành viên, tạo thành một sức mạnh tổng hợp, tất cả cùng vì một mục tiêu chất luợng.

(4) Cách tiếp cận theo quá trình (Process approach): Đây là một cách tiếp cận rất khoa học cho mọi công việc. Mọi hoạt động đều phải đuợc quản lý theo một quy trình khoa học, trong đó thể hiện rõ mối liên quan hoặc tuơng tác giữa các công việc với nhau để biến đổi đầu vào thành đầu ra.

(5) Cách tiếp cận theo hệ thống (System approach to management): Phải coi hoạt động của doanh nghiệp là một hệ thống động và phức tạp. Với cách nhìn của lý thuyết hệ thống thì việc quản lý chất luợng cần phải đuợc quản lý một cách đồng bộ, phối hợp toàn bộ các nguồn lục một cách hài hòa, để thục hiện một mục tiêu chung là chất luợng.

(6) Cải tiến liên tục (Continual improvement): Đây cũng là một nguyên tắc chiến lược, được coi là phương châm hoạt động của doanh nghiệp.

(7) Quyết định dựa trên sự thực (Factual approach to decision making): Mọi số liệu, thông tin trong hệ thống của doanh nghiệp phải trung thực và chính xác. Dựa vào sự thực này, người lãnh đạo mới có các quyết định đúng đắn.

(8) Quan hệ các bên cùng có lợi (Mutually beneficial supplier relationship): Với bên ngoài đó là giữa doanh nghiệp với khách hàng, với bên trong đó là giữa các phòng ban, giữa lãnh đạo và nhân viên. Mối quan hệ này phù hợp với quy luật thị trường, vì vậy nó tồn tại lâu dài, bển vững và phát triển.

Trong 8 nguyên tắc trên thì nguyên tắc số 1 và số 6 được coi là chiến lược nó thể hiện được những tư tưởng mới của ISO 9000 và được gọi là hai “nguyên tắc vàng”.

Dựa trên 8 nguyên tắc này ISO 9000 đưa ra một phương thức quản lý mới có tính cách mạng, làm thay đổi quan điểm về quản lý chất lượng. Đó là phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng tốt với triết lý nhân quả: “Nếu hệ thống sản xuất và hệ thống quản lý tốt thì sản phẩm và dịch vụ mà hộ thống đó sản xuất ra sẽ tốt”. Đây là những tư tưởng tiến bộ, hiện đại, phù hợp với một thời đại mới – thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.