Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và căn cứ thẩm định dự án đầu tư

Đầu tư dự án

a) Mục đích của công tác thẩm định dự án đầu tư

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc quản lý đầu tư và xây dựng là quản lý tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư. Thẩm định dự án được xem như một yêu cầu không thể thiếu và là cơ sỏ dể ra quyết định hoặc cấp giấy phép đáu tư. Đây là những công việc được tiến hành trong các giai đoạn hình thành dự án (nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi hoặc các nghiên cứu chuyên đề).

Theo các quy định hiện hành, thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư được thực hiện theo quy định phân cấp tương ứng với các hình thức đầu tư (trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài).

Đối với mọi cấp, theo mọi hình thức đầu tư các dự án đều phải tiến hành thẩm định trước khi trình người có thẩm quyền quyết định hoặc cấp phép đầu tư xem xét, quyết định.

b) Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư

Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư xuất phát từ bản chất, tính phức tạp và các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

Thẩm định dự án nhằm làm sáng tỏ và phân tích về một loạt các vấn đề có liên quan tới tính khả thi trong quá trình thực hiện dự án: thị trường, công nghệ, kỹ thuật, khả năng tài chính của dự án để đứng vững trong suốt đời hoạt động, về quản lý thực hiện dự án, phần đóng góp của dự án vào sự tăng trưởng của nền kinh tế… với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết sử dụng trong dự án này; Đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có giúp quốc gia đạt được các mục tiêu xã hội hay không, nếu có thì bằng cách nào, và liệu dự án có đạt hiệu quả kinh tế hay không khi đạt các mục tiêu xã hội này.

Giai đoạn thẩm định dự án bao hàm một loạt khâu thẩm định và quyết định, đưa tới kết quả là chấp thuận hay bác bỏ dự án. Như vậy về mặt chuyên môn yêu cầu chung của công tác thẩm định dir án là: đảm bảo tránh thực hiện đầu tư các dự án không có hiệu quả, mặt khác cũng không bó mất các cơ hội đầu tư có lợi.

Mặt khác, thẩm định dự án còn là một công việc được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư, vì vậy cần được tiến hành theo các yêu cầu về quán lý. về mặt này, công tác thấm định dự án phải được tiến hành phù hợp với các quy định hiện hành vê quản lý đầu tưđảm bao thời hạn quy định.

c) Nhiệm vụ thẩm định dự án đầu tư

Thực chất của việc thẩm định dự án là phân tích đánh giá tính khả thi của dự án trên tất cả các phương diện kinh tế, kỹ thuật, xã hội trên cơ sở các quy định của luật pháp, tiêu chuẩn, định mức, quy định của các cơ quan quản lý nhà nước, tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.

Những yêu cầu nói trên đặt cho người phân tích, đánh giá dự án chẳng những quan tâm xem xét, kiểm tra về mặt nội dung hồ sơ dự án, mà còn tìm các phương pháp, cách thức đo lường, đánh giá để có được những kết luận giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định đầu tư một cách có căn cứ.

Đê đáp ứng yêu cầu nói trên, người làm công tác thẩm định, giống như đối với người lập dự án, phải:

–     Có nghiệp vụ thẩm định dự án (có kiến thức và phương pháp).

–     Nắm vững luật pháp và các quy định cụ thể về quản lý đầu tư và xây dựng.

–     Có đủ các thông tin cần thiết để phân tích, đánh giá dự án theo các nội dung liên quan.

Ngoài những yêu cầu nói trên, người làm công tác thẩm định còn cần có hiểu biết và

kỹ nãng nhất định về việc sử dụng các phương tiện tính toán và xử lý thông tin.

Để thực hiện được những nhiệm vụ nói trên, đồng thời tránh được một số những thiên kiến trong công tác thẩm định dự án, cán bộ thẩm định cần phải có trình độ chuyên môn, có hiểu biết về quản lý, chính sách và có nghiệp vụ phân tích, đánh giá dự án như đã nói trên để có khả năng đưa ra những kết luận chính xác tính khả thi của dự án dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác định. Đồng thời, để công việc thẩm định dự án giúp cho việc lập kế hoạch đầu tư và lựa chọn dự án, nhà nước cần có hệ thống thẩm định dự án được tổ chức một cách chặt chẽ và hợp lý.

d) Căn cứ để tiến hành thẩm định dự án

–   Hồ sơ dự án: Thẩm định dự án trước hết là căn cứ vào hồ sơ dự án do chủ đầu tư trình duyệt. Hồ sơ dự án bao gồm các văn bản, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan đến dự án được lập theo quy định. Quy định về hồ sơ dự án được quy định đối với từng loại dự án cụ thể (đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài, dự án sử dụng vốn ODA, dự án đầu tư theo hình thức BOT,…) như đã nêu phần lập dự án đầu tư.

–   Hệ thống văn bản pháp quy: Căn cứ pháp lý đế thẩm định dự án đầu tư gồm hệ thống luật pháp, các vãn bản pháp quy khác như đã nêu ở phần lập dự án đầu tư.

–   Các thông tin có liên quan: Để đánh giá nội dung về chuyên môn của dự án, ngoài các tiêu chuẩn, quy phạm, định mức do nhà nước quy định, còn cần sử dụng các thông tin khác có liên quan như giá cả, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, thông tin về chủ đầu tư, kinh nghiệm trong nước và thế giới về những vấn đề có liên quan,…