Quản lý định mức kinh tế kỹ thuật trong đầu tư và giá xây dựng công trình

Đầu tư dự án

định mức kinh tế – kĩ thuật trong đầu tư xây dựng công trình

Khái niệm [10]

Định mức dự toán xây dựng công trình (sau đây gọi tắt là định mức dự toán) là định mức kinh tế – kỹ thuật thể hiện mức hao phí về vật liệu, lao động và máy thi công đế hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng như lm1 tường gạch, lm3 bê tông, lm2 lát gạch, 1 tấn cốt thép, 100m dài cọc .v.v… từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây dựng (ké cả những hao phí cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thi công xây dựng liên tục, đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật).

Định mức dự toán bao gồm định mức kinh tế – kỹ thuật và định mức chi phí tỷ lệ.

Định mức kinh tế – kỹ thuật là căn cứ để lập đơn giá xây dựng công trình, giá xây dựng tổng hợp.

Định mức kinh tế – kỹ thuật bao gồm: định mức dự toán xây dựng công trình (phần xây dựng, lắp đặt, khảo sát, sửa chữa, thí nghiệm vật liệu, cấu kiện và kết cấu xây dựng) và các định mức xây dựng khác.

Định mức chi phí tỷ lệ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên chi phí theo quy định dùng để xác định chi phí của một số loại công việc trong đầu tư xây dựng không cần xác định theo phương pháp lập dự toán.

Định mức chi phí tỷ lệ dùng đế xác định chi phí của một số loại công việc trong hoạt động xây dựng bao gồm: định mức chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí chung, trực tiếp phí khác, thu nhập chịu thuế tính trước, chi phí nhà tạm tại hiện trường đế ở và điều hành thi công và một số định mức chi phí tỷ lệ khác.

Nội dung

Định mức dự toán xây dựng công trình thể hiện mức hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng, từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây dựng.

–  Mức hao phí vật liệu: Là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời lẻ, vật liệu luân chuyển cần cho việc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng.

–  Mức hao phí lao động: Là số ngày công lao động của công nhân trực tiếp và phục vụ theo cấp bậc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng.

–  Mức hao phí máy thi công: Là số ca sử dụng máy và thiết bị thi công chính và phụ để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng.

Đơn giá xây dựng công trình

Khái niệm, yêu cầuphán loại giá xây dựng công trình

a) Khái niệm giá xây dựng công trình

Hệ thống giá xây dựng công trình bao gồm: đơn giá xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp được dùng để lập, điều chỉnh chi phí xây dựng trong tổng mức đầu tư, dự toán công trình.

–  Đơn giá xây dựng công trình là chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật tổng hợp, bao gồm toàn bộ chi phí trực tiếp về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng của công trình xây dựng cụ thể.

–  Giá xây dựng tổng hợp là chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để hoàn thành một nhóm loại công tác xây dựng, một đơn vị kết cấu, bộ phận của công trình.

b) Yêu cầu đối với đơn giá xây dựng công trình

Giá xây dựng công trình phải thể hiện đầy đủ đặc điểm công trình, vị trí thi công, yêu cầu kỹ thuật điều kiện thi công, biện pháp thi công, chế độ chính sách và mặt bằng giá cả thị trường tại thời điểm thi công xây dựng công trình.

–  Đơn giá xây dựng công trình được lập trên cơ sở giá thị trường hoặc mức hao phí cần thiết vể vật liệu, nhân công và máy thi công đê hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng và các yếu tố chi phí có liên quan cụ thể đến công trình như sau:

+ Giá vật liệu xây dựng được xác định phù hợp với tiêu chuẩn, chúng loại và chất lượng vật liệu sử dụng cho công trình xây dựng cụ thể. Giá vật liệu xây dựng xác định trên cơ sở giá thị trường do tổ chức có chức năng cung cấp, báo giá của nhà sản xuất, thông tin giá của nhà cung cấp hoặc giá đã được áp dụng cho công trình khác có tiêu chuẩn, chất lượng tương tự. Giá vật liệu đến hiện trường xây lắp được tính theo phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình;

+ Giá nhân công xây dựng được xác định trên cơ sở tính đúng, tính đủ tiền lương nhân công và phù hợp với mặt bằng thị trường lao động phổ biến của từng khu vực, tính theo từng ngành nghề cần sử dụng;

+ Giá ca máy và thiết bị thi công được xác định theo công trình cụ thể và theo phương pháp do Bộ Xây dựng hướng dẫn hoặc theo mặt bằng thị trường giá ca máy phổ biến.

–  Đối với những công trình xây dựng (kể cả các công trình sử dụng nguồn vốn ODA) có yêu cầu sử dụng lao động nước ngoài, vật tư, vật liệu nhập khẩu, thiết bị thi công nhập khẩu và các yêu cầu đặc thù khác thì đơn giá xây dựng được lập bổ sung các chi phí theo điều kiện thực tế và đặc thù của công trình. [10].

c)  Phân loại đơn giá xây dựng công trình

–    Theo mức độ chi tiết hoặc tổng hợp của đơn giá có: Đơn giá chi tiết xây dựng công trình; Đơn giá tổng hợp xây dựng công trình.

–    Theo nội dung chi phí của dơn giá có: Đơn giá xây dựng công trình không đầy đủ (chỉ bao gồm các thành phần chi phí trực tiếp vật liệu, nhân công, máy thi công); Đơn giá xây dựng công trình đầy đủ (bao gồm cả chi phí trực tiếp và các thành phần chi phí như trong dự toán gồm: chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế).

Như vậy, có bốn loại đơn giá xây dựng công trình là đơn giá chi tiết xây dựng công trình đầy đủ, không đầy đủ và đơn giá tổng hợp xây dựng công trình đầy đủ, không đầy đủ.